Chào mừng quý vị đến với Thư viện Trường THCS Trần Hưng Đạo - Cam Lộ - Quảng Trị.
TRẦN HƯNG ĐẠO VÀ NGHỆ THUẬT XOAY CHUYỂN TÌNH THẾ
- Nếu như Lý Thường Kiệt chọn công để lấn át khí thế quân thù, thì Trần Hưng Đạo lại làm ngược lại. Ông chọn cách rút lui để lật ngược tình thế. Chủ động tránh sức mạnh địch, kéo địch vào trận tuyến chiến tranh toàn dân, với chiến lược ấy, quân dân nhà Trần đã không chỉ một lần chiến thắng quân Nguyên-Mông - đội quân hùng mạnh bậc nhất một thời của thế giới.
Đầu thế kỷ thứ 13, quốc gia của người Mông Cổ được hình thành ở Trung Á. Sau đó không bao lâu, khắp nơi trên lục địa Á Âu đều có vết chân ngựa của họ. Bằng thứ sức mạnh ào ạt của kỵ binh, những đội quân Mông Cổ trở thành cơn ác mộng của bất cứ quốc gia nào trở thành mục tiêu xâm lược của họ.
Năm 1257, người Mông Cổ triển khai kế hoạch xâm lược Nam Tống. Với ý định tạo ra một gọng kìm nhanh chóng tiêu diệt vương quốc này, Mông Cổ lập kế hoạch chớp nhoáng tiến chiếm Đại Việt ở phía nam.
Cuối năm 1257, đầu năm 1258, dưới sự lãnh đạo của triều đình nhà Trần (1226-1399), nhân dân Đại Việt sôi nổi đoàn kết chống giặc. Và không giống nhiều cuộc chiến trước, người Mông Cổ thất bại. Trong lịch sử Việt Nam, đó là cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên lần thứ nhất.
Cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba của nhân dân Đại Việt diễn ra vào các năm 1285 và 1288. Dường như càng chiến đấu càng bản lĩnh, Đại Việt đánh bại quân Mông-Nguyên lần thứ hai rồi lần thứ ba.
Mãi về sau này, dù luôn được nhắc đến như những chiến thắng kiểu mẫu của chiến tranh nhân dân trong thời kỳ phong kiến nhưng cách xoay chuyển tình thế mà Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần (hay thường được biết đến là Trần Hưng Đạo) - tổng chỉ huy của cuộc kháng chiến, tạo ra lại là một dấu ấn tôn vinh tài năng cá nhân. Bởi thế, cùng với những cuộc kháng chiến của nhà Trần, cái tên Trần Hưng Đạo đã trở thành nột niềm tự hào trong lịch sử Việt Nam.
Trước thế giặc hùng mạnh...
Sau lần xâm lược thất bại ở Đại Việt năm 1258, quân Nguyên không dám khinh suất. Trong các đợt xâm lược lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288), vua Nguyên là Hốt Tất Liệt phái đi những đạo quân đông gấp cả chục lần so với lần đầu và lần sau chuẩn bị chu đáo hơn lần trước (lần thứ 2, quân Nguyên có tới 50 vận quân, lần thứ 3 quân Nguyên có 30 vạn quân, trong đó có cả thuỷ binh và chưa tính đội quân chở lương).
Không khó để hình dung về sức mạnh của quân Mông-Nguyên, khi đến thời điểm của cuộc xâm lược Đại Việt lần hai, lãnh thổ của họ không những bao trùm gần hết châu Á mà đã lấn nhiều sang châu Âu. Uy thế vô cùng mạnh mẽ. Thế nên, tướng giặc Ô Mã Nhi đã thẳng thừng đe doạ quan quân nhà Trần rằng: "Chỉ trong chốc lát, núi sông (các ngươi) sẽ thành đất bằng, vua tôi (các ngươi) sẽ ra cỏ mục". Địch mong muốn dùng sức mạnh ào ạt của kị binh, nhanh chóng khiến quân ta khiếp đảm, tan tác.
Vào những thời khắc đầu tiên của cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên xâm lược lần hai, sức mạnh ấy hiện rõ. Những cuộc tấn công chặn địch đầu tiên do Trần Hưng Đạo chỉ huy bị bẻ gãy nhanh chóng.
Lùi... để đào sâu nhược điểm của địch
Trong “Binh thư yếu lược” - soạn cho tướng sỹ học, Trần Hưng Đạo viết: “Người giỏi thắng không cần thắng nhiều lần, mà cần toàn thắng, đảm bảo thắng”. Điều đó đồng nghĩa với việc làm cách nào để có được chiến thắng cuối cùng mới là điều quan trọng nhất. Thế nên, cuộc kháng chiến quân Nguyên-Mông - đội quân hùng mạnh bậc nhất thế giới thời trung đại - của quân dân nhà Trần, dưới sự chỉ đạo của ông, được tiến hành theo một phương thức rất đặc biệt.
Ông nhanh chóng thay đổi chiến lược: chuyển từ trực tiếp đối đầu với khí thế hung hãn của quân Nguyên sang lui binh. Hạ lệnh cho tất cả các cánh quân rút lui, ông cùng với hai vua Trần thu quân về Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương). Giặc truy kích đến Vạn Kiếp, Trần Hưng Đạo lại đưa quân về Thăng Long. Khi giặc đuổi theo đến Thăng Long, ông điều binh rút về Thiên Trường (Nam Định). Cứ thế, quân ta tránh đụng độ với giặc trong nhiều tháng.
Một chiến thuật có vẻ bất thường nhưng lại là một trong những điểm đặc sắc nhất thể hiện óc chiến lược sắc sảo của Trần Hưng Đạo.
Với sức mạnh áp đảo, quân Nguyên muốn đánh nhanh, thắng nhanh. Bị chúng lấn át ngay trong những đợt tấn công đầu tiên, ông hiểu rằng, đối đầu ngay tức thì không phải là một chiến thuật đắc dụng trong tình huống này.
Những đội quân muốn đánh nhanh thắng nhanh thường có một nhược điểm chí tử: đó là công tác hậu cần. Thất bại của quân Mông-Nguyên năm 1258 góp phần chỉ rõ điểm mấu chốt đó.
Thế nên, thay vì tiến hành những cuộc tiến công trực diện ít có cơ hội chiến thắng, đánh vào điểm yếu này của địch sẽ là cách tốt nhất lấy đi sức mạnh của chúng. Áp dụng chiến lược lui binh, ông sẽ khiến cho địch không thể đánh theo cách đánh của chúng, nói theo cách khác ông chủ động kéo dài cuộc chiến đấu. Khi đó, thiếu lương thực - nhược điểm ngày một trầm trọng của địch - sẽ tự làm chúng suy yếu.
Nắm được chìa khoá tiêu diệt địch, khi quân Nguyên lần thứ ba đưa quân sang xâm lược Đại Việt (1287-1288), ông đã tự tin tâu với vua Trần rằng: "Thế giặc năm nay dễ phá". Và quả nhiên, sau khi tướng Trần Khánh Dư tiêu diệt đội binh lương của quân địch tại Vân Đồn (cuối năm 1287), quân địch lại rơi đúng vào tình huống ngặt nghèo về lương thảo - nguyên nhân sâu xa dẫn đến thất bại trong hai lần xâm lược trước.
Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, không chỉ giúp bảo toàn lực lượng, chiến thuật lui binh của Trần Hưng Đạo đã đẩy quân địch từ thế chủ động tấn công sang tình trạng dần mất phương hướng vì không tìm được đối tượng chiến đấu và rơi vào thế trận chiến tranh nhân dân của ta.
Tuy nhiên, nếu coi chiến lược lui binh của Trần Hưng Đạo là khởi đầu của một kế hoạch xoay chuyển tình thế - với các bước: khoét sâu nhược điểm, đẩy giặc vào tình thế khốn đốn và lấy lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường - thì cuộc chiến của nhân dân mỗi nơi giặc đến chính là bước thứ hai. Sự phối hợp ăn ý giữa việc lui binh của quân triều đình với các cuộc tiến công tại chỗ của nhân dân khắp nơi là yếu tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Lấy nhân dân làm điểm tựa xoay chuyển tình thế
Khi tính toán những bước đi của chiến thuật lui binh, chắc chắn Trần Hưng Đạo có tính đến thời điểm chấm dứt chiến thuật. Dựa trên đích nhắm đến của chiến thuật, có thể thấy đó sẽ phải là lúc tương quan so sánh giữa hai bên nghiêng hẳn về quân Trần, chúng ta kiểm soát được thế trận và nắm chắc phần thắng. Hay nói cách khác, đó là lúc mà người định đoạt kết cục của trận chiến là quân Trần chứ không phải 50 vạn hay 30 vạn quân nguyên.
Khi quân giặc không triển khai được thế trận của chúng, phải theo đuổi quân ta chủ lực của ta hết nơi này đến nơi khác, bước một của kế hoạch xoay chuyển tình thế đã thành công. Bước hai được xúc tiến dáo diết với kế "thanh dã" (làm "vườn không nhà trống") và chiến tranh du kích.
Khi quân Nguyên tiến vào kinh thành Thăng Long, chúng gặp phải một "sự kháng cự" kỳ lạ, cả kinh thành trống không và khắp nơi dán đầy yết thị kêu gọi nhân dân giết giặc: “Phàm các quận huyện trong nước, hễ có giặc ngoài đến, thì phải liều chết cố đánh; nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, chứ không được hàng”.
Sự vắng lặng quá mức của kinh thành khiến quân giặc e sợ. Chúng đưa quân ra đóng ngoài thành. Và có lẽ, khi vạch kế hoạch xâm lược, quân Nguyên Mông chỉ nghĩ rằng những cuộc đụng độ với quân của triều đình nhà Trần là thử thách duy nhất trong cuộc chiến. Chúng không ngờ, chúng còn phải đối phó với những thử thách khác cũng gay go chẳng kém.
Cần phải nhắc lại, trước khi cuộc chiến chống xâm lược bắt đầu, nhà Trần đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý trong điện Diên Hồng. Các bô lão đại diện cho nhân dân khắp mọi miền tổ quốc được nhà vua hỏi ý kiến xem liệu thế giặc mạnh như vậy nên hoà hay nên đánh. Và cuộc kháng chiến của nhà Trần đã tạo cho mình một chỗ dựa vô cùng vững chắc khi không ai bảo ai, muôn người như một cùng hô "Đánh". Dường như, đó là câu thần chú kết nối lòng yêu nước trong mỗi người dân thành một loại sức mạnh trải khắp Đại Việt, hiển hiện, ám ảnh mỗi bước đi của quân Nguyên.
Cùng với những cuộc rút lui chiến lược của quân triều đình, khắp nơi, dân Việt đẩy mạnh chiến tranh du kích. Đêm đêm, những đội quân cảm tử được lệnh xuất kích đánh vào trại giặc. Bị tấn công ban đêm, bọn giặc vô cùng hoảng sợ, chỉ biết cố thủ, đợi trời sáng mới dám đánh. Chúng phải dựng rào gỗ, tăng thêm tuần tra ở các đồn trại đề phòng quân ta tiến đánh. Ngoài ra, theo lệnh triều đình, nhân dân tất cả những nơi giặc đi qua đều triệt để thực hiện kế thanh dã, cất giấu hết lương thực, không để giặc tự do cướp bóc.
Thiếu lương, không triển khai được thế trận, mệt mỏi vì cứ phải đuổi theo quân triều đình Trần, bị quấy rối và đánh phá liên miên, càng kéo dài cuộc chiến tranh, tình trạng của đội quân Nguyên ngày nào còn hùng mạnh càng trở nên bi đát: đói khát, bệnh tật và hoang mang đến tột độ. Cuộc chiến khắp nơi của người dân Đại Việt vắt kiệt dần ý chí chiến đấu của chúng.
Đến đây, bước hai - và cũng là bước cuối cùng của kế hoạch xoay chuyển tình thế - hoàn tất. Đây chính là lúc sự hoang mang, dã đám và thoái chí của quân Nguyên phải đối phó với một đội quân nguyên vẹn sức mạnh, đầy khí thế chiến đấu và được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ của triều đình nhà Trần. Chẳng còn điều gì còn có thể tạo ra ưu thế cho quân giặc.
Trần Hưng Đạo nói về sức mạnh của chiến tranh nhân dân - thứ mà ông gọi là "thế nhân trận" - như sau: “hình dáng trận như chữ nhân, tiến cũng là chữ nhân, thoái cũng là chứ nhân, họp lại cộng làm một người, tan ra cũng làm một người, một người làm một trận, nghìn muôn người hợp làm một trận, nghìn muôn người động làm một trận”. Nói như vậy cũng đủ để biết, trong suy nghĩ của ông, sức mạnh của nhân dân có thể làm được những điều kỳ diệu gì.
Phản kích
Tình hình bi đát của quân giặc chính là mốc chấm dứt chiến thuật lui binh của Trần Hưng Đạo. Quân Trần bước vào giai đoạn hai của cuộc kháng chiến - giai đoạn phản kích.
Các cuộc phản công được tổ chức gần như đồng loạt và rất mạnh mẽ.
Quân và dân nhà Trần đã làm nên không ít chiến thắng oanh liệt: từ những chiến thắng như chiến thắng A Lỗ (gần điểm nối giữa sông Hồng và sông Luộc ngày nay), chiến thắng Tây Kết, chiến thắng Hàm Tử, chiến thắng Chương Dương đến những chiến thắng làm cho quân thù kinh hãi như chiến thắng Bạch Đằng.
Bị đáng thua khắp mọi nơi, quân Nguyên nhanh chóng tan rã. Hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo đều chiến thắng ròn rã.
Lui binh bảo toàn lực lượng, khoét sâu điểm yếu của địch, dùng sức mạnh nhân dân xoay chuyển tình thế, đẩy giặc vào tình thế khốn đốn và tiêu diệt địch, có thể nói, sự thành công của các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông là chiến thắng điển hình của nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, trong đó, nổi bật lên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp - bước đệm của những cuộc phản kích dồn dập sức mạnh cuối mỗi cuộc kháng chiến. Đây chính là sự gắn kết hoàn hảo của các yếu tố dân, quân, cơ trong bàn tay lãnh đạo của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Minh ChiĐào Thị Châu @ 15:41 06/04/2009
Số lượt xem: 2195
- Tiểu sử Trần Hưng Đạo (06/04/09)
- Quang Trung Nguyễn Huệ - Người Anh hùng áo vải(1752-1792) (06/04/09)
- Nguyễn Trãi - Người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới (06/04/09)
- Lê Lợi Vị anh hùng giải phóng dân tộc (06/04/09)











Ý kiến nhắn gửi